Hệ thống các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực từ kết quả pháp điển đề mục Phòng, chống bạo lực gia đình
Sign In

Nghiên cứu trao đổi

Hệ thống các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực từ kết quả pháp điển đề mục Phòng, chống bạo lực gia đình

Thực hiện Quyết định số 891/QĐ-TTg ngày 17/7/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục các đề mục trong mỗi chủ đề và phân công cơ quan thực hiện pháp điển theo các đề mục, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì thực hiện pháp điển Đề mục Phòng, chống bạo lực gia đình (Đề mục 5 Chủ đề 8. Dân số, trẻ em, gia đình, bình đẳng giới). Đến nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan thực hiện pháp điển xong Đề mục Phòng, chống bạo lực gia đình, đồng thời đề mục này cũng đã tổ chức họp thẩm định theo quy định. Sau đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng thẩm định và gửi Bộ Tư pháp hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ thông qua theo quy định.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xác định có 06 văn bản có nội dung thuộc Đề mục (thuộc thẩm quyền pháp điển của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và đào tạo; Bộ Y tế) và 20 văn bản có nội dung liên quan đến Đề mục. Đề mục Phòng, chống bạo lực gia đình có cấu trúc được xác định theo cấu trúc của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15 ngày 14/11/2022 của Quốc hội, gồm 06 chương với 56 điều luật và không có sự thay đổi so với cấu trúc của Luật.
Đề mục Phòng, chống bạo lực gia đình có các nội dung chính như sau:
- Chương I quy định những vấn đề chung như: Phạm vi điều chỉnh; Giải thích từ ngữ; Hành vi bạo lực gia đình; Nguyên tắc phòng chống bạo lực gia đình; Các hành vi nghiêm cấm trong phòng, chống bạo lực gia đình; Chính sách của Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; Tháng hành động quốc gia phòn, chống bạo lực gia đình; Quyền và trách nhiệm của người bị bạo lực gia đình; Trách nhiệm của người có hàng vi bạo lựuc gia đình; Trách nhiệm của thành viên gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình; Quyền và trách nhiệm của cá nhân trong phòng, chống bạo lực gia đình.
- Chương II quy định về phòng ngừa bạo lực gia đình như: Mục đích, yêu cầu trong thông tin, truyền thông, giáo dục (Thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm nâng cao nhận thức, định hướng hành vi ứng xử, góp phần xóa bỏ bạo lực gia đình. Việc thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống bạo lực gia đình phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: Thường xuyên, chính xác, rõ ràng, đơn giản, thiết thực; Phù hợp với trình độ, lứa tuổi, giới tính, truyền thống, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, địa bàn; Chú trọng thay đổi hành vi của người có hành vi bạo lực gia đình, người thường xuyên có hành vi cổ xúy cho bạo lực, kỳ thị, phân biệt đối xử về giới, giới tính, định kiến giới; Bình đẳng giới, bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị bạo lực gia đình và những người có liên quan; Bảo đảm an toàn thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình.); Nội dung thông tin, truyền thông, giáo dục; Hình thức thông tin truyền thông giáo dục (Các hình thức thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm: Hội nghị, hội thảo, tập huấn, nói chuyện chuyên đề; phổ biến pháp luật trực tiếp; Phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp- phích, tranh cổ động; Lồng ghép trong chương trình và hoạt động tại cơ sở giáo dục Tổ chức cuộc thi, chiến dịch truyền thông; Lồng ghép trong hoạt động văn học, nghệ thuật, thể thao, sinh hoạt đoàn thể, cộng đồng dân cư; mô hình phòng, chống bạo lực gia đình và các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật); Tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; Hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình; Chủ thể tiến hành hòa giải (Thành viên gia đình, dòng họ có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp nhằm phòng ngừa hành vi bạo lực gia đình phát sinh hoặc tái diễn; Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa người thuộc cơ quan, tổ chức đó với thành viên gia đình của họ khi có đề nghị của thành viên gia đình; Tổ hòa giải ở cơ sở có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp và vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở; Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức, cá nhân khác hướng dẫn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về phòng, chống bạo lực gia đình cho hòa giải viên của Tổ hòa giải ở cơ sở).
- Chương III gồm 4 mục quy định về bảo vệ, hỗ trợ, xử lý vi phạm trong phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể:
+ Mục 1 quy định về báo tin và xử lý tin báo, tố giác về hành vi bạo lực gia đình như Báo tin, tố giác về hành vi bạo lực gia đình (Địa chỉ tiếp nhận tin báo, tố giác về hành vi bạo lực gia đình bao gồm: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình; Cơ quan Công an, Đồn Biên phòng gần nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình; Cơ sở giáo dục nơi người bị bạo lực gia đình là người học; Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình; Người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cấp xã nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình và Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình. Việc báo tin, tố giác về hành vi bạo lực gia đình có thể được thực hiện theo các hình thức như gọi điện, nhắn tin; gửi đơn, thư hoặc trực tiếp báo tin.); Xử lý tin báo, tố giác về hành vi bạo lực gia đình; Sử dụng âm thanh, hình ảnh về hành vi bạo lực gia đình (Người có âm thanh, hình ảnh về hành vi bạo lực gia đình có quyền cung cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết vụ việc bạo lực gia đình. Việc sử dụng âm thanh, hình ảnh về hành vi bạo lực gia đình trong quá trình giải quyết vụ việc bạo lực gia đình và đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, internet phải được sự đồng ý của người bị bạo lực gia đình hoặc người giám hộ, người đại diện theo pháp luật của người bị bạo lực gia đình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
+ Mục 2 quy định về ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình; bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình, người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình như Biện pháp ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình; Buộc chấm dứt hành vi bạo lực gia đình (Người có thẩm quyền giải quyết vụ việc bạo lực gia đình được áp dụng ngay các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để chấm dứt hành vi bạo lực gia đình. Người có mặt tại nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình theo khả năng của mình và tính chất của hành vi bạo lực gia đình có trách nhiệm yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình); Yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình đến trụ sở Công an xã nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình (Khi được phân công giải quyết vụ việc, Trưởng Công an xã có quyền yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình đến trụ sở Công an xã nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình để làm rõ thông tin, giải quyết vụ việc trong các trường hợp sau đây: Người bị bạo lực gia đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự chăm sóc; hoặc Khi có căn cứ cho rằng hành vi bạo lực gia đình đã hoặc có thể tiếp tục gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người bị bạo lực gia đình); Cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra hành vi bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc mỗi lần không quá 03 ngày trong các trường hợp sau đây: Có đề nghị của người bị bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người bị bạo lực gia đình hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đối với hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe dọa tính mạng của người bị bạo lực gia đình, hoặc Hành vi bạo lực gia đình đe dọa tính mạng của người bị bạo lực gia đình); Cấm tiếp xúc theo quyết định của Tòa án (Tòa án nhân dân đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa người bị bạo lực gia đình và người có hành vi bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời gian không quá 04 tháng khi có đủ các điều kiện sau đây: Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe dọa tính mạng của người bị bạo lực gia đình; và có đơn yêu cầu của người bị bạo lực gia đình hoặc người giám hộ, người đại diện theo pháp luật của người bị bạo lực gia đình hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Tòa án nhân dân đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa người bị bạo lực gia đình và người có hành vi bạo lực gia đình tự mình ra quyết định cấm tiếp xúc trong thời gian không quá 04 tháng khi cần bảo vệ tính mạng của người bị bạo lực gia đình); Giám sát việc thực hiện quyết định cấm tiếp xúc (Người được phân công giám sát có nhiệm vụ theo dõi việc thực hiện quyết định cấm tiếp xúc; khi phát hiện người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc, người được phân công giám sát có quyền yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện nghiêm quyết định cấm tiếp xúc; trường hợp tiếp tục vi phạm thì báo cho Trưởng Công an xã xử lý theo quy định của pháp luật); Bố trí nơi tạm lánh và hỗ trợ nhu cầu thiết yếu (Người bị bạo lực gia đình được bố trí nơi tạm lánh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định hoặc do cơ quan, tổ chức, cá nhân tự nguyện hỗ trợ; Người bị bạo lực gia đình được hỗ trợ nhu cầu thiết yếu theo quy định của pháp luật về trợ giúp xã hội); Chăm sóc, điều trị người bị bạo lực gia đình (Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tiếp nhận, sàng lọc, phân loại, chăm sóc, điều trị người bệnh là người bị bạo lực gia đình; cung cấp thông tin về tình trạng tổn hại sức khỏe của người bị bạo lực gia đình theo đề nghị của người đó hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Nhân viên y tế trong quá trình chăm sóc, điều trị người bệnh, nếu phát hiện người bệnh có dấu hiệu bị bạo lực gia đình có trách nhiệm báo cáo ngay cho người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh); Trợ giúp pháp lý và tư vấn tâm lý, kỹ năng để ứng phó với bạo lực gia đình (Người bị bạo lực gia đình được Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý cũng như được cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý, kỹ năng để ứng phó với bạo lực gia đình theo quy định của Chính phủ); Giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình; Góp ý, phê bình người có hành vi bạo lực gia đình trong cộng đồng dân cư; Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng; Bảo vệ người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình và người báo tin, tố giác về bạo lực gia đình.
+ Mục 3 quy định về cơ sở trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình như Cơ sở trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình (Cơ sở trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình thực hiện việc chăm sóc, tư vấn, bố trí nơi tạm lánh, hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho người bị bạo lực gia đình và trẻ em mà người bị bạo lực gia đình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng; giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình); Địa chỉ tin cậy (Địa chỉ tin cậy là tổ chức, cá nhân có uy tín, khả năng và tự nguyện giúp đỡ người bị bạo lực gia đình); Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện việc chăm sóc, điều trị cho người bệnh là người bị bạo lực gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này); Cơ sở trợ giúp xã hội, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý (Cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện việc chăm sóc và hỗ trợ các điều kiện cần thiết khác cho người bị bạo lực gia đình trong thời gian người bị bạo lực gia đình lưu trú tại cơ sở theo quy định của pháp luật; Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho người bị bạo lực gia đình theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý); Cơ sở khác tham gia trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình; Cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình.
+ Mục 4 quy định về xử lý vi phạm về luật phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể: Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình (Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Trường hợp người bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân thì người ra quyết định xử phạt có trách nhiệm thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó)
- Chương IV quy định về điều kiện bảo đảm phòng, chống bạo lực gia đình như: Kinh phí phòng, chống bạo lực gia đình (Nguồn tài chính phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm: Ngân sách nhà nước; Nguồn viện trợ, tài trợ, tặng cho, đóng góp, hỗ trợ, ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật và các nguồn tài chính hợp pháp khác); Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình; Phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình (Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phối hợp với người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình cùng cấp để triển khai, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình); Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng tham gia phòng, chống bạo lực gia đình (Người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về phòng, chống bạo lực gia đình và kiến thức, kỹ năng cần thiết khác có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình).
- Chương V quy định quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về phòng, chống bạo lực gia đình như: Nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình (Nội dung quản lý nhà nước và phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm các nội dung: Ban hành, trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình; Thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; Thực hiện công tác thống kê về phòng, chống bạo lực gia đình; Đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác phòng, chống bạo lực gia đình; Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình; Khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong phòng, chống bạo lực gia đình; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.); Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; Trách nhiệm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp; Trách nhiệm của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp; Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; Trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Trách nhiệm của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế.
- Chương VI quy định về điều khoản thi hành như: Sửa đổi, bổ sung Điều 135 của Bộ luật Tố tụng dân sự (Sửa đổi, bổ sung Điều 135 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Bộ luật số 45/2019/QH14 và Luật số 59/2020/QH14 như sau: “Điều 135. Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 14 Điều 114 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.”); Hiệu lực thi hành (Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2023)
Như vậy, thông qua việc pháp điển Đề mục Phòng, chống bạo lực gia đình đã xác định được toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về phòng, chống bạo lực gia đình đang còn hiệu lực được thống kê, tập hợp, sắp xếp giúp các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân dễ dàng tìm kiếm, tra cứu cũng như bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật và góp phần nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật. 
 
 
Chung nhan Tin Nhiem Mang